Vận dụng cách trị bệnh bằng đá vào cuộc sống

Phương pháp trị bệnh bằng đá là một trong những phương tiện gần gũi nhất giúp chúng ta điều chỉnh, hóa giải và nâng cấp những rối rắm từ thân và tâm. Bằng những tác động trực tiếp trên cơ thể và tương tác qua các vùng khí quang, thạch đá có thể giúp chúng ta ổn định, điều chỉnh những bế tắc của cơ thể và dần tiến đến việc nâng cấp toàn diện.

Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý là 6 ngưỡng cửa mang thông tin dữ liệu tác động đến tinh thần và thân thể chúng ta. Nếu chúng ta biết chọn lọc và sử dụng một cách linh hoạt thì việc Thăng Hoa đời sống sức khỏe và tinh thần không phải là khó. Khi cơ thể được khỏe mạnh, tinh thần được an định, trí tuệ sẽ minh mẫn sáng suốt. Chúng ta mới thấy được rằng chúng ta cần làm nhiều việc trong cuộc sống và rồi chúng ta mới thấy rõ hơn vai trò của chúng ta xuất hiện trên quả địa cầu này như thế nào.

Sau một thời gian nghiên cứu, khảo nghiệm các nguồn nhập liệu trong và ngoài nước, chúng tôi thấy rằng thạch đá thật sự có thể mang lại nhiều lợi ích cho chúng ta. Mời các bạn cùng chúng tôi tìm hiểu về phương pháp trị bệnh bằng đá để có được sức khỏe niềm vui và hạnh phúc nhé!

Mời bạn xem thêm: Cách tạo nước ngâm từ đá chữa bệnh

tri-benh-bang-da

Lý luận trị bệnh theo y học cổ truyền

Lý luận trị bệnh của y học cổ truyền lấy nền tảng của Âm Dương- ngũ hành làm căn bản, từ đó khai triển, phối chiếu lập thành luận cứ của Bát cương, Bát pháp. Trị bệnh có khó có dễ, có hư có thật, thậm chí có lúc hư thật lẫn lộn, mờ mờ ảo ảo thay đổi không ngừng. Do đó, người thầy trị bệnh cần linh hoạt đối với từng bệnh chứng, không nên quá cứng nhắc, dập khuôn các cổ phương để rồi làm nguy đến tính mạng bệnh nhân.. Nếu thấy rằng Tây y hay Y học hiện đại có khả năng giải quyết những vấn đề cấp bách như khối u quá lớn (chèn nén), Thủy thấp quá nhiều (căng tức, ép), thoát máu, mất nước quá nhiều,.. thì nên phối hợp chặt chẽ để cứu sống bệnh nhân!

Nghiên cứu về y học cổ truyền, chắc hẳn mọi người cũng thường nghe thuật ngữ Thông thất bất Thống, Thống tất bất Thông – hễ đau thì không thông, thông thì không đau. Việc xác định nguyên nhân đó là then chốt cho phác đồ trị bệnh. Áp dụng Thạch đá trị bệnh trong y học cổ truyền là vận dụng kiến thức lý luận cơ bản. Đấy chỉ là những chế tác song song với châm, cứu, cắt, lễ, thang dược,… do đó muốn dùng thạch đá, người thầy thuốc cần am tường rõ ràng các pháp lý luận.

Vài điều căn bản về âm dương và ngũ hành:

Sách Nội kinh Tố Vấn viết: “ Âm Dương là quy luật của Trời – Đất, là cương kỷ của vạn vật, nguồn gốc của sự biến hóa, căn cội của sự sinh trưởng và hủy diệt, là kho tàng chứa đựng thần minh, trị bệnh phải tìm rõ căn bản của bệnh. Phải chăng, muôn điều, môn vật, hiện tượng, căn nguyên của mọi sự biến hóa đều từ 2 nguồn âm dương mà phát sinh, tiêu trưởng, và hủy diệt. Biết quân bình, nắm bắt, vận chuyển hai khí âm dương là chìa khóa của sự vận hành và điều hòa trong nhân thế.

Trong cơ thể con người, âm dương được tượng trưng rất rõ ràng:

tri-benh-bang-da

Vận dụng phương pháp trị bệnh bằng đá

Dùng đá để điều chỉnh âm dương trong cơ thể

– Hễ âm thắng thì dương bệnh: Dương bệnh thường biểu hiện ở những triệu chứng như: phát hàn, sợ lạnh, cơ thể suy nhược, yếu sức, khí lực không đủ nên lười ăn, tiếng nói cũng yếu, tay chân khó cử động, di chuyển bất lợi, khó khăn đi tiểu nhiều không thích uống nước, thích bóng tối

* Điều trị bằng cách đưa những loại đá có “Dương tính (ôn, nhiệt)”.

Thạch đá thường dùng: là những loại có sắc tố đỏ, hồng như ruby, can thạch, mã não đỏ, san hô đỏ, topaz hồng, tourmaline hồng,… các loại đá có sắc vàng, nâu, xám hay những loại đá có cả hai tính chất của âm dương như: thạch anh vàng, thạch anh tím, aventurine

– Hễ Dương thắng thì Âm bệnh: Âm bệnh thường biểu hiện ở những triệu chứng như: phát sốt, đổ mồ hôi, miệng lưỡi khô, hành động vượt mức bình thường (cuồng ngôn, chạy loạn..), co giật (động kinh), khát nước, thích ra ánh sáng.

*Điều trị bằng cách đưa những loại đá có đặc tính Âm (hàn, lương)

*Thạch đá thường dùng: là những loại có sắc tố xanh, đen, lục, lam: Lapis Lazuli, Tourmaline, Tektite, Aventurine, Emerald, Peridot, Kyanite, Sapphire,..

Thí dụ:

+ Trường hợp một người đang lên cơn sốt do cảm nắng, miệng khô, khát nước, nhức đầu… ta thấy tất cả những dấu hiệu biểu hiện sự thiên thắng của Dương khí. có thể ức chế sự thiên thắng của Dương khí này bằng cách đưa loại đá có nhiều Âm tính để thanh nhiệt, hạ sốt như mã não xanh, Lapis lazuli

+ Trường hợp một người đang bị cảm lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, cơ thể lạnh hay run… Ta thấy tất cả những dấu hiệu của sự thiên thắng của khí Âm. Có thể ức chế sự thiên thắng của khí Âm này bằng những loại đá có nhiều Dương tính để khu phong, tán hàn như Ruby, can thạch, mã não đỏ, thạch anh vàng, topaz hồng.

Dùng đá để điều chỉnh cân bằng ngũ hành trong cơ thể

Thông thường trong châm cứu, Việc cân bằng âm dương và ngũ hành được dùng rất nhiều. Đặc biệt là cách chuẩn đoán ngũ hành của tạng phủ và phối hợp vào các Ngũ du huyệt.

Thường lý luận Bổ Tả có thể trực tiếp áp dụng theo Ngũ hành của Tạng Phủ hay Ngũ hành của huyệt vị trên hệ thống Kinh lạc.

Nguyên tắc: “Hư bổ Mẫu, Thực tả Tử”

Áp dụng cho Tạng Phủ

chua-benh-bang-da

*Hư bổ Mẫu:

– Trường hợp Thổ sinh Kim: Thổ làm mẫu, Kim là tử. thường áp dụng cho các bệnh mãn tính lâu ngày. Tạng phủ bị bệnh lâu ngày không đủ sức hồi phục, cần nhờ một nguồn cung cấp khác để bổ sung. Muốn như vậy thì lấy những gì sinh ra nó để Bổ nó à tức là bổ cho Mẹ của nó để sinh cho nó.

Chẳng hạn, Phế (phổi) thuộc Kim, Kim do Thổ sinh. Nếu như Kim bệnh (hư), bổ Kim bằng cách bổ Thổ. Màu sắc của Thổ là vàng, kem, nâu. Những loại đá có sắc màu tương ứng có thể dùng được như thạch anh vàng, mã não, aventurine, chalcedony.

*Thực tả Tử:

Trường hợp này thay vì tả trực tiếp Tạng, Phủ hay Kinh bệnh, thì điều trị ở Tạng, Phủ hay Kinh được nó sinh ra như Mộc sinh hỏa thì thay vì tả Mộc thì lại tả Hỏa.

Chẳng hạn, Can thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa. Tả hỏa bằng những loại thạch có sắc ức chế Hỏa như các thạch có màu của thủy (xanh, đen). Thạch có thể dùng như: Lapis, Sodalite, thạch anh tím, Onyx, tourmaline đen, mã não đen…

Dùng đá để cân bằng hệ thống kinh lạc trong cơ thểchua-benh-bang-da

Thí dụ: trường hợp cảm do cảm nhiễm Phong Hàn (nhức đầu, kho, hắt hơi, chảy nước mũi liên tục, người lạnh, sợ lạnh, thích uống nước nóng, mình mẩy đau nhức…).

Ta thấy rằng, tiếng Ho là tiếng của Phế, Phế khai khiếu ở mũi, nước mũi là thủy dịch của Phế. Phế bệnh gây ho, chảy mũi là Thủy cảu Phế suy. Phế thuộc kim, bổ Kim bằng những thạch có sắc trắng, đặt để tại Thủy huyệt của Phế (như dùng hai viên đá trắng (thạch anh) đặt ở hai huyệt Xích trạch (huyện thủy của Phế) của Phế kinh. Tuy nhiên, vì Phế thuộc Âm, bổ Âm huyệt là dùng huyệt bên phải của cơ thể (bên phải thuộc Âm, bên trái thuộc Dương).

Ngoài ra, người thầy trị bệnh cần hiểu rõ ràng những cơ chế, bịnh biến, nguyên nhân, nguyên tắc để chọn lựa thạch liệu thích hợp. chẳng hạn như:

  • Thạch đá có tính chất bài độc như: ngọc lục bảo (emerald), peridot,thạch anh tím (amethyst).
  • Thạch nhiệt tiêu viêm: thạch anh tím, aquamarine, celestite.
  • Vận hành bồi bổ khí huyết: ruby, pink tourmaline, rose quartz, thiên thạch (tektite)
  • Cầm máu, chỉ huyết: bloodstone, hematit

Nguồn: “Thạch đá trị liệu”

Tác giả: Hồ Thanh Trúc

Website Security Test